Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai là gì? Có lây không?
Sức khỏe

Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai là gì? Có lây không?

Vào một buổi sáng thức dậy, trong một lúc nhất thời bạn cảm thấy đau vùng dưới tai và sờ thấy hạch sưng ở góc hàm. Bạn không rõ mình đã mắc bệnh gì, bạn lo sợ mình mắc bệnh quai bị. 2 bệnh Viêm tuyến nước bọt mang tai và quai bị là 2 bệnh dễ bị nhầm lẫn với nhau. Sau đây xin mời bạn đọc tham khảo về bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai là gì? Có lây không?

Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai là gì?

 Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai đơn thuần do các loại vi khuẩn Staphylococcus aureus, do virus Influenza, Parainfluenza, coxsackie… gây nên hoặc do sỏi làm tắc ống dẫn tuyến nước bọt cũng gây viêm. Bệnh thường chỉ tổn thương tại tuyến nước bọt, diễn biến lành tính, tự khỏi hoặc cũng có trường hợp  chuyển sang viêm mạn tính phì đại tuyến.

viêm tuyến nước bọt mang tai

Trong nước bọt của tuyến mang tai có chất ức chế hoạt tính của virus quai bị và sự phát triển của chúng.

Biểu hiện

Bệnh nhân thấy vùng tuyến nước bọt mang tai sưng to, sưng lan rộng ra xung quanh tuyến, da vùng tuyến sưng tấy đỏ đau, nói và nuốt đau, có hạch viêm phản ứng ở góc hàm hoặc sau tai cùng bên. Sốt 38 – 39oC, ấn  vùng tuyến mang tai thấy có mủ chảy ra ở miệng ống Stenon.

 Đối với bệnh nhân bị bệnh viêm tuyến nước bọt đơn thuần thường không thấy có tổn thương ngoài tuyến nước bọt. Bệnh có tính chất đơn lẻ, cơ hội, thường xuất hiện khi có viêm nhiễm khác ở khoang miệng và mũi họng, không lây thành dịch.

 Ở những bệnh nhân viêm tuyến tái phát nhiều lần làm vùng tuyến mang tai 2 bên phì đại (to hơn bình thường) không nhỏ lại được, vì thế làm biến dạng khuôn mặt bệnh nhân.

Phân loại 

 Viêm tuyến nước bọt mang tai được chia làm hai loại: Viêm tuyến cấp và viêm tuyến mạn. trong viêm tuyến mang tai còn được chia ra: Viêm tuyến cấp thanh dịch và viêm tuyến cấp không đặc hiệu. Viêm tuyến cấp thanh dịch còn gọi là quai bị.Ở tuyến nước bọt và xung quanh có thể phát triển các quá trình bệnh lý khác nhau  nhìn chung, có hai loại bệnh thường xuất hiện ở vùng này là viêm tuyến nước bọt và u tuyến nước bọt.

VIÊM TUYẾN NƯỚC BỌT MANG TAI CẤP THÔNG THƯỜNG

 Nguyên nhân gây bệnh Viêm tuyến nước bọt mang tai cấp có thể do các yếu tố toàn thân và tại chỗ:

 – Các yếu tố toàn thân: Gồm các trạng thái bệnh lý toàn thân gây suy dinh dưỡng làm suy kiệt cơ thể ảnh hưởng đến chức năng của tuyến.

 – Các bệnh truyền nhiễm: Cúm, sởi, ỉa chảy, lỵ, thương hàn…

 – Các thuốc nhóm bệnh thần kinh: Hội chứng suy nhược thần kinh, Sau rối loạn tuần hoàn não, sau chấn thương sọ não và rối loạn thần kinh thực vật gây rối loạn tiết nước bọt.

 Viêm tuyến nước bọt cấp sau phẫu thuật bụng hay gặp hơn cả (0,2 – 4%), sau mổ chấn thương gãy xương ít hơn, chỉ thấy ở một số bệnh nhân suy mòn nằm bất động lâu ngày.

 Viêm tuyến nước bọt còn gặp ở những ngày thay đổi thời tiết, những tiếp xúc nóng lạnh đột ngột ở bệnh nhân có cơ địa phản ứng dị ứng khu vực tuyến.

 – Các yếu tố tại chỗ: Chủ yếu là bệnh lý viêm nhiễm ở vùng xung quanh tuyến lan vào như cốt tủy viêm xương hàm dưới ở vùng góc hàm hay ngành lên, viêm tai xương chũm cấp hoặc mạn, viêm khớp hàm có mủ, sỏi ống tuyến hoặc sau chấn thương tuyến.

 Các bệnh răng miệng là yếu tố quan trọng và thường xuyên gây viêm tuyến nước bọt.

 Những đường nhiễm trùng vào ống tuyến gồm:

 – Thâm nhập qua đường miệng, vào ống tuyến rồi vào nhu mô tuyến.

 – Theo đường máu vào tuyến xảy ra sau một số bệnh viêm nhiễm khu trú hoặc sau  phẫu thuật vết thương.

 – Nhiễm trùng tuyến theo đường tiếp cận lan tràn xung quanh, phá vỡ vỏ xơ bao quanh tuyến vào nhu mô tuyến.

 Biểu hiện:

 Các triệu chứng chức năng có thể thấy đau tức nhẹ vùng tuyến, đau tăng nhanh căng tức buốt như bị đâm, đau tăng hơn khi ăn uống, toàn thân có sốt, có khi sốt cao. Bệnh nhân có cảm giác khô miệng (do phản xạ giảm tiết cả hệ thống tuyến giai đoạn đầu).

 

VIÊM TUYẾN NƯỚC BỌT MANG TAI MẠN TÍNH. 

Viêm tuyến nước bọt mang tai mạn tính liên quan chặt chẽ đến sự suy giảm chức năng tiết nước bọt. Những nguyên nhân gây viêm, rối loạn chức năng tiết nước bọt lâu dài không phải lúc nào cũng xác định được. Trong nhiều trường hợp viêm tuyến kết hợp với một số bệnh như: Huyết áp cao, viêm đa khớp, viêm dạ dày, viêm túi mật, đại tràng, rối loạn thần kinh thực vật, trong những trường hợp như vậy thường có giảm tiết nước bọt.

 Tùy theo bệnh lý phát triển đầu tiên ở tổ chức nào trong tuyến (ở nhu mô tuyến hay tổ chức kẽ) mà chia ra viêm nhu mô tuyến hoặc viêm tổ chức kẽ tuyến nước bọt mãn tính.

 Viêm nhu mô tuyến nước bọt mang tai mạn tính:

 Nhiều khi sự khởi phát của quá trình viêm nhu mô tuyến mang tai mạn tính khá âm thầm mà bệnh nhân không thấy được. Bệnh nhân chỉ chú ý khi có những dấu hiệu của một đợt bùng phát hoặc sự cảm giác có mủ chảy vào trong miệng, nhất là vào các buổi sáng khi mới ngủ dậy.

 Biểu hiện:

 Ở giai đoạn đầu của bệnh không thấy mặt lệch do còn sưng ít, da trên nền tuyến gần như bình thường. Khi viêm kéo dài, khối lượng nhu mô tuyến tăng sinh nhiều sẽ thấy tuyến nổi gồ hẳn trên mặt da như một con trai nhỏ. Bệnh nhân cảm thấy vướng tức khó chịu, sờ nắn thấy tuyến sưng to gồ ghề thành múi, đau khi khám. Xoa vùng tuyến và vuốt dọc theo tuyến thấy nước bọt tiết ra có những chất nhầy và những gợn trắng. Ở giai đoạn bùng phát thấy tuyến bị đau khi ăn, tăng cảm giác và phản ứng phù nề tại chỗ, màu sắc da hơi đỏ hoặc sạm. Bệnh nhân có thể sốt, đau tăng, nước bọt đặc quánh có lẫn mủ. Có một số trường hợp viêm tuyến mãn tính đợt bùng phát cũng diễn biến như một viêm tuyến cấp có mủ hoặc viêm hoại tử tuyến. Sau khi điều trị hết đợt bùng phát cấp tính, tuyến không có khả năng hồi phục bình thường cả về khối lượng và mật độ.

 

Viêm tổ chức kẽ tuyến mang tai mạn tính.

Viêm tổ chức kẽ tuyến mang tai mạn tính chiếm tỷ lệ 10% các loại viêm mạn tuyến mang tai.

Biểu hiện:

Quá trình viêm bắt đầu bằng tăng cảm giác đau tức của tuyến mang tai hai bên. Sưng nề tuyến tăng chậm và kéo dài nhiều năm, vào thời gian rét trong năm thường thấy tuyến sưng to hơn.

Giai đoạn đầu thấy sưng nề không thường xuyên, lúc to, lúc nhỏ, kèm theo đau, mật độ tuyến mềm, da phủ tuyến không thay đổi vẫn có thể véo da nâng lên, nước bọt trong, số lượng tiết có giảm đi một ít. Khi có đợt bùng phát, khoảng từ 2 – 3 ngày, thấy tuyến mang tai sưng nề tăng lên, đau và khô miệng, toàn thân không có gì thay đổi. Nếu được chườm nóng tại vùng tuyến kết hợp với dùng thuốc, sưng nề giảm dần, giảm và ngừng đau, nước bọt tiết quánh nhầy hơn. Sau đợt viêm cấp tuyến nước bọt có nhỏ lại nhưng không bao giờ về mức độ ban đầu của nó. Trong giai đoạn ổn định nước bọt tiết trong nhưng số lượng ngày càng giảm dần.

 

Tránh nhầm lẫn giữa viêm tuyến nước bọt mang tai và quai bị

Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai và quai bị là hai bệnh lý về tuyến nước bọt. Hai căn bệnh này thường có những triệu chứng khá giống nhau nên mọi người hay bị nhầm lẫn. Tuy nhiên, có thể phân biệt hai căn bệnh này bằng cách dựa vào biến chứng của nó. Biến chứng của viêm tuyến nước bọt có thể gây biến dạng mặt mũi. Trong khi đó bệnh quai bị là một bệnh do viêm tuyến nước bọt nguy hiểm nếu không phát hiện kịp thời sẽ bị ảnh hưởng nặng đến cơ thể người bệnh có biến chứng nặng nề hơn đó là có thể gây vô sinh.

Tránh nhầm lẫn giữa viêm tuyến nước bọt mang tai và quai bị

Vì vậy, khi thấy những triệu chứng của bệnh bạn nên kịp thời đến bệnh viện để khám và có cách phân biệt đúng hai loại bệnh. Từ đó có cách xử lý và điều trị kịp thời tránh gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt, những bệnh này rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai.

Viêm tuyến nước bọt có lây không?

 Theo các chuyên gia, bệnh viêm tuyến nước bọt không lây nhiễm. Trên thực tế đã chứng minh, không có trường hợp thứ hai nào bị lây bệnh ngay cả khi người bị viêm tuyến nước bọt là thành viên trong gia đình. Có thể khẳng định được điều này là vì:

Tuyến nước bọt gồm có 2 phần chính là tuyến nước bọt nhỏ và tuyến nước bọt lớn. Các khối u tuyến nước bọt hầu hết là những khối u lành tính và không lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Tuy nhiên, không phải vì đây là căn bệnh không lây lan mà bạn chủ quan không tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và cách phòng bệnh.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *